BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THI HÀNH ÁN CỦA LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 2025
Luật Thi hành án dân sự năm 2025 có hiệu lực từ ngày 01/07/2026 đã kế thừa các nguyên tắc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đồng thời sửa đổi, bổ sung một số quy định chung nhằm hoàn thiện cơ chế áp dụng và nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp bảo đảm trong thực tiễn.

1. Các quy định chung về biện pháp bảo đảm thi hành án
So với Điều 66 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sau đây gọi là “Luật THADS 2008), Điều 66 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 (sau đây gọi là “Luật THADS 2025) về cơ bản kế thừa các nguyên tắc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, như mục đích ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ thi hành án; quyền chủ động của người có thẩm quyền hoặc quyền áp dụng theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự; nguyên tắc không phải thông báo trước cho đương sự khi áp dụng biện pháp bảo đảm; và trách nhiệm bồi thường của người yêu cầu nếu yêu cầu không đúng gây thiệt hại.
Bên cạnh việc kế thừa các quy định trên, Luật Thi hành án dân sự năm 2025 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng, cụ thể:
Thứ nhất, so với Luật THADS năm 2008, Luật THADS năm 2025 đã mở rộng phạm vi của biện pháp phong tỏa từ “phong tỏa tài khoản” thành “phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ”. Điều này cho phép cơ quan thi hành án không chỉ phong tỏa tiền, tài sản trong tài khoản mà còn có thể áp dụng đối với tài sản của người phải thi hành án đang được tổ chức, cá nhân khác gửi giữ.
Thứ hai, Luật THADS năm 2025 sửa đổi tên gọi của biện pháp bảo đảm từ “tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản” thành “tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản”. Việc sửa đổi này nhằm mở rộng phạm vi điều chỉnh và làm rõ nội dung của biện pháp, tạo thuận lợi cho việc áp dụng trên thực tế.
Thứ ba, Luật THADS năm 2025 bổ sung biện pháp tạm hoãn xuất cảnh vào hệ thống các biện pháp bảo đảm thi hành án. Mặc dù việc tạm hoãn xuất cảnh đã được cơ quan thi hành án dân sự thực hiện trên cơ sở pháp luật về xuất cảnh, nhập cảnh, nhưng đây là lần đầu tiên biện pháp này được ghi nhận trực tiếp trong Luật THADS. Đồng thời, Luật cũng quy định Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự là chủ thể có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp này, thay vì Chấp hành viên như đối với các biện pháp bảo đảm khác.
Thứ tư, Luật THADS năm 2025 thống nhất quy định về việc chuyển từ áp dụng biện pháp bảo đảm sang biện pháp cưỡng chế. Theo đó, sau khi áp dụng biện pháp bảo đảm, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày có đủ căn cứ áp dụng biện pháp cưỡng chế, Chấp hành viên phải áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật. So với Luật năm 2008, quy định này đã ấn định thời hạn tính từ ngày ra quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm, tạo điều kiện để cơ quan thi hành án xác minh, giải quyết các trường hợp phát sinh như tranh chấp hoặc chưa xác định rõ quyền sở hữu đối với tài sản bị áp dụng biện pháp bảo đảm.
Thứ năm, Luật THADS năm 2025 và Nghị định 152/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự có hiệu lực từ ngày 01/07/2026 không quy định nguyên tắc “việc áp dụng biện pháp bảo đảm phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và chi phí thi hành án” như trước đây tại Điều 13 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP. Tuy nhiên, đối với biện pháp phong tỏa tiền trong tài khoản, nguyên tắc tương ứng vẫn được áp dụng theo quy định riêng của pháp luật.
2. Biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ
Căn cứ tại Điều 67 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 quy định:
“Điều 67. Phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ
1. Phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có tài khoản, tài sản đang gửi giữ.
2. Quyết định phong tỏa tài khoản phải xác định rõ số tiền phải thi hành án. Chấp hành viên phải thông báo ngay quyết định phong tỏa cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản của người phải thi hành án.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản phải thực hiện phong tỏa tiền, tài sản số, tài sản khác trong tài khoản của người phải thi hành án theo quy định của Chính phủ; trường hợp số tiền, giá trị tài sản trong tài khoản ít hơn nghĩa vụ của người phải thi hành án hoặc không xác định được giá trị tài sản trong tài khoản thì phong tỏa toàn bộ số tiền, tài sản số, tài sản khác trong tài khoản.
3. Quyết định phong tỏa tài sản phải xác định rõ tài sản, nơi gửi giữ tài sản và thông báo ngay cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đang giữ, quản lý tài sản của người phải thi hành án để thực hiện việc phong tỏa tài sản.
4. Trường hợp cần phong tỏa ngay tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ của người phải thi hành án mà chưa ban hành quyết định phong tỏa thì Chấp hành viên lập biên bản yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản của người phải thi hành án phong tỏa tài khoản, tài sản đó. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản, Chấp hành viên phải ra quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản. Biên bản, quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản trong trường hợp này phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền.
5. Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản phải thực hiện ngay quyết định, yêu cầu của Chấp hành viên về phong tỏa tài khoản, tài sản. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện quyết định, yêu cầu của Chấp hành viên dẫn đến đương sự tẩu tán tài sản thì bị xử lý theo quy định của pháp luật, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.”
Như vậy, Điều 67 Luật THADS năm 2025 đã quy định về biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ thông qua việc mở rộng phạm vi áp dụng, bổ sung đối tượng tài sản được phong tỏa và quy định cụ thể hơn về trách nhiệm của các chủ thể có liên quan.
3. Biện pháp tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản
Căn cứ tại Điều 68 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 quy định:
“Điều 68. Tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản
1. Tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản của người phải thi hành án, tài sản chung của người phải thi hành án với người khác được áp dụng trong trường hợp cần ngăn chặn đương sự chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, tẩu tán, hủy hoại, thực hiện các giao dịch về tài sản hoặc thay đổi hiện trạng tài sản, trốn tránh việc thi hành án.
2. Quyết định tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản phải được thông báo ngay cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để thi hành.
3. Đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm cung cấp các giấy tờ, tài liệu cần thiết để chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng và có quyền khởi kiện, yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản theo quy định tại Điều 39 của Luật này.
4. Người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tài sản không được thực hiện việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, chuyển quyền sử dụng đất, chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng tài sản và các giao dịch khác đối với tài sản đó; gây hư hỏng, đánh tráo, làm mất, hủy hoại tài sản, thay đổi kết cấu, thay đổi hiện trạng tài sản cho đến khi nhận được quyết định khác của Chấp hành viên.
Trường hợp người phải thi hành án, cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện quyết định, yêu cầu của Chấp hành viên dẫn đến tài sản bị chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, tẩu tán, hủy hoại, thực hiện các giao dịch hoặc thay đổi hiện trạng thì bị xử lý theo quy định của pháp luật, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.”
Như vậy, quy định trên đã hoàn thiện cơ chế áp dụng biện pháp tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản thông qua việc mở rộng phạm vi điều chỉnh và quy định cụ thể hơn về trách nhiệm của các chủ thể có liên quan.
4. Biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ
Căn cứ tại Điều 69 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 quy định:
“Điều 69. Tạm giữ tài sản, giấy tờ
1. Tạm giữ tài sản, giấy tờ được áp dụng trong trường hợp phát hiện tài sản, giấy tờ liên quan đến việc thi hành án đang do đương sự, tổ chức, cá nhân khác quản lý, sử dụng nhằm ngăn chặn đương sự chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, tẩu tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạng tài sản, trốn tránh việc thi hành án.
2. Quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ phải xác định rõ loại tài sản, giấy tờ bị tạm giữ. Chấp hành viên giao quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ cho đương sự hoặc tổ chức, cá nhân đang quản lý, sử dụng.
Trường hợp cần tạm giữ ngay tài sản, giấy tờ mà chưa ban hành quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ thì Chấp hành viên yêu cầu giao tài sản, giấy tờ và lập biên bản về việc tạm giữ.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản, Chấp hành viên phải ban hành quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ. Biên bản, quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang giữ, quản lý, sử dụng tài sản, giấy tờ phải giao nộp tài sản, giấy tờ theo yêu cầu của Chấp hành viên. Trường hợp cần thiết, Chấp hành viên đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan hỗ trợ việc tạm giữ tài sản, giấy tờ để thi hành án.
Đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm cung cấp các giấy tờ, tài liệu cần thiết để chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng và có quyền khởi kiện, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản, giấy tờ tạm giữ theo quy định tại Điều 39 của Luật này.”\
Như vậy, Điều 69 quy định cụ thể hơn về trách nhiệm của các chủ thể có liên quan, trình tự, thủ tục áp dụng và cơ chế phối hợp trong quá trình tạm giữ tài sản, giấy tờ. Đặc biệt, Luật đã chuyển từ cơ chế Chấp hành viên chủ động yêu cầu cung cấp tài liệu sang quy định rõ nghĩa vụ cung cấp của đương sự và các chủ thể có liên quan, đồng thời bổ sung trách nhiệm giao nộp tài sản, giấy tờ và cơ chế hỗ trợ của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi cần thiết.
5. Biện pháp tạm hoãn xuất cảnh
Căn cứ tại Điều 70 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 quy định:
“Điều 70. Tạm hoãn xuất cảnh
1. Người phải thi hành án chưa thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án theo bản án, quyết định thì có thể bị tạm hoãn xuất cảnh, trừ các trường hợp sau đây:
a) Trường hợp người phải thi hành nghĩa vụ về tiền, tài sản mà có đủ tài sản để thực hiện nghĩa vụ và đồng ý để cơ quan thi hành án dân sự giao, xử lý tài sản để thi hành án, đồng thời đã ủy quyền cho người khác thay mặt họ giải quyết việc thi hành án liên quan đến tài sản đó;
b) Nghĩa vụ thi hành án đã được chuyển giao theo quy định của Luật này;
c) Khi người phải thi hành án bị Tòa án có thẩm quyền ra quyết định dẫn độ theo quy định của Luật Dẫn độ;
d) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
2. Quyết định tạm hoãn xuất cảnh phải được thông báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền quản lý xuất nhập cảnh.
3. Việc tạm hoãn xuất cảnh, gia hạn, giải tỏa, hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh được thực hiện theo quy định của pháp luật về xuất nhập cảnh và quy định của Chính phủ.”
Luật THADS 2025 đã bổ sung biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đây là một điểm mới so với Luật THADS 2008 nhằm tăng cường hiệu quả thi hành án, siết chặt điều kiện xuất cảnh của người phải thi hành án, đồng thời đồng bộ với các luật chuyên ngành khác.
Mọi thông tin yêu cầu tư vấn vui lòng liên hệ:
⚖️ VĂN PHÒNG LUẬT SƯ ROYAL – Royal law firm
📩Email: info@royallaw.vn
🌏 Website: https://royallaw.vn/
☎️ Hotline: 0989 337 688
Văn phòng Hà Nội:
☎️Điện thoại: (84-24) 3512 2931
🏢Địa chỉ: Tầng 6, Tòa nhà New SkyLine, KĐT Văn Quán, đường Nguyễn Khuyến, phường Hà Đông, thành phố Hà Nội.
Văn phòng thành phố Hồ Chí Minh:
☎️ Điện thoại: (84-28) 2213 5775
🏢Địa chỉ: Lầu 4, tòa nhà Halo Building, số 10 Phan Đình Giót, phường Tân Sơn Hòa, thành phố Hồ Chí Minh.




























