SAU KHI CÓ QUYẾT ĐỊNH THI HÀNH ÁN ĐƯƠNG SỰ CÓ QUYỀN TỰ THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ KHÔNG?
Trong quá trình thi hành án dân sự, pháp luật cho phép đương sự được tự thỏa thuận với nhau nếu điều đó không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Tuy nhiên, khi cơ quan thi hành án đã ban hành quyết định thi hành án thì đương sự có được quyền tự thỏa thuận hay không? Bài viết dưới đây sẽ làm rõ nội dung trên.

1. Quyền thỏa thuận của đương sự trong thi hành án
Căn cứ tại Điều 6 Luật Thi hành án Dân sự 2008 quy định về quyền thỏa thuận của đương sự như sau:
“Điều 6. Thoả thuận thi hành án
1. Đương sự có quyền thoả thuận về việc thi hành án, nếu thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Kết quả thi hành án theo thoả thuận được công nhận.
Theo yêu cầu của đương sự, Chấp hành viên có trách nhiệm chứng kiến việc thoả thuận về thi hành án.”
Theo khoản 2 Điều 36 Luật Thi hành án Dân sự năm 2025 có hiệu lực ngày 01/7/2026 cũng quy định tại về quyền thỏa thuận của đương sự như sau:
“Điều 36. Tự nguyện và thỏa thuận thi hành án
…2. Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận về việc thi hành án và phải chịu trách nhiệm về thỏa thuận đó. Khi thỏa thuận về việc thi hành án, các đương sự phải thỏa thuận về phí thi hành án và các chi phí phát sinh (nếu có).
Thỏa thuận phải được lập thành văn bản, thể hiện rõ thời gian, địa điểm, thành phần, nội dung thỏa thuận, thời hạn thực hiện thỏa thuận, hậu quả pháp lý đối với việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nội dung thỏa thuận, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia.
Kết quả thi hành án theo thỏa thuận được công nhận, trừ trường hợp thỏa thuận vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ nộp phí thi hành án.
Trường hợp đương sự không thực hiện đúng thỏa thuận thì có quyền yêu cầu thi hành phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định.”
Như vậy về quyền thỏa thuận của đương sự trong thi hành án dân sự tại Luật Thi hành án dân sự 2008 và Luật Thi hành án dân sự 2025 cơ bản có sự kế thừa về nguyên tắc, khi đều ghi nhận đương sự có quyền tự thỏa thuận thi hành án Tuy nhiên, so với quy định Luật THADS 2008, Luật THADS 2025 đã có những điểm mới theo hướng cụ thể và chặt chẽ hơn. Cụ thể:
Luật THADS 2025 mở rộng chủ thể được quyền thỏa thuận bao gồm cả người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; quy định rõ các bên phải chịu trách nhiệm về nội dung thỏa thuận; đồng thời bắt buộc thỏa thuận phải được lập thành văn bản với các nội dung chi tiết như thời gian, địa điểm, nội dung, thời hạn và hậu quả pháp lý khi vi phạm. Bên cạnh đó, luật cũng bổ sung các trường hợp thỏa thuận không được công nhận, như khi ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền lợi của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài chính, cũng như quy định rõ cơ chế xử lý khi một bên không thực hiện thỏa thuận. Những điểm thay đổi này cho thấy xu hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng vừa bảo đảm quyền tự định đoạt của các bên, vừa tăng cường tính minh bạch và hạn chế rủi ro trong quá trình thi hành án dân sự.
2. Sau khi có quyết định thi hành án đương sự có quyền tự thỏa thuận thi hành án dân sự không?
Căn cứ tại khoản 2 Điều 5 Nghị định 62/2015/NĐ-CP (được sửa đổi bởi khoản 3 Điều 1 Nghị định 33/2020/NĐ-CP) quy định về thỏa thuận thi hành án dân sự như sau:
“Điều 5: Thỏa thuận thi hành án
…2.Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án, đương sự vẫn có quyền tự thỏa thuận thi hành án. Thỏa thuận phải bằng văn bản thể hiện rõ thời gian, địa điểm, nội dung thỏa thuận, thời hạn thực hiện thỏa thuận, hậu quả pháp lý đối với việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nội dung đã thỏa thuận, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia. Đương sự phải chịu trách nhiệm về nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, không đúng với thực tế, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh phí thi hành án.
Trường hợp các bên không tự nguyện thực hiện theo đúng nội dung đã thỏa thuận thì cơ quan thi hành án dân sự căn cứ nội dung quyết định thi hành án và kết quả đã thi hành theo thỏa thuận, đề nghị của đương sự để tổ chức thi hành, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này.”
Như vậy, dù đã có quyết định thi hành án, đương sự vẫn có quyền tự thỏa thuận việc thi hành án nếu thỏa thuận hợp pháp và được lập thành văn bản có đầy đủ nội dung như: thời gian, địa điểm, nội dung thỏa thuận, thời hạn thực hiện thỏa thuận…Trường hợp không thực hiện đúng thỏa thuận, cơ quan thi hành án sẽ tiếp tục tổ chức thi hành theo quy định.
Mọi thông tin yêu cầu tư vấn vui lòng liên hệ:
⚖️ VĂN PHÒNG LUẬT SƯ ROYAL – Royal law firm
📩Email: info@royallaw.vn
🌏 Website: https://royallaw.vn/
☎️ Hotline: 0989 337 688
Văn phòng Hà Nội:
☎️Điện thoại: (84-24) 3512 2931
🏢Địa chỉ: Tầng 8, P.802 tòa nhà HH2 Bắc Hà, số 15 phố Tố Hữu, phường Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
Văn phòng thành phố Hồ Chí Minh:
☎️ Điện thoại: (84-28) 2213 5775
🏢Địa chỉ: Lầu 4, tòa nhà Halo Building, số 10 Phan Đình Giót, phường Tân Sơn Hòa, thành phố Hồ Chí Minh.




























