RỦI RO, HẬU QUẢ PHÁP LÝ VÀ CHẾ TÀI XỬ PHẠT TRONG THỦ TỤC TỰ CÔNG BỐ SẢN PHẨM THỰC PHẨM ĐÓNG GÓI SẴN
Trong lĩnh vực kinh doanh thực phẩm, đặc biệt là hoạt động sản xuất và nhập khẩu thực phẩm đóng gói sẵn, một sai lầm nghiêm trọng mà rất nhiều doanh nghiệp hiện nay đang mắc phải là sự nhầm lẫn giữa khái niệm Miễn Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện An toàn thực phẩm và thủ tục Tự công bố sản phẩm. Nhiều doanh nghiệp nhỏ lẻ hoặc cơ sở sơ chế ban đầu khi đối chiếu luật thấy đơn vị mình thuộc diện không phải xin cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm liền mặc định cho rằng doanh nghiệp có quyền tự do đưa sản phẩm ra lưu thông trên thị trường.

Sự chủ quan trong việc bám sát các quy định pháp luật đang đẩy nhiều doanh nghiệp vào nguy cơ đối mặt với các chế tài xử phạt hành chính vô cùng khắt khe, thậm chí dẫn đến việc đình chỉ hoạt động và tiêu hủy toàn bộ lô hàng.
1. Cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động tự công bố sản phẩm và bản chất của thủ tục
Phân định ranh giới pháp lý Pháp luật hiện hành quy định bắt buộc các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm đã qua chế biến bao gói sẵn, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm phải thực hiện thủ tục Tự công bố sản phẩm trước khi đưa ra lưu thông. Việc một cơ sở sản xuất, kinh doanh được miễn trừ thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm hoàn toàn độc lập với nghĩa vụ phải thực hiện công bố chất lượng đối với chính sản phẩm do cơ sở đó làm ra. Việc đánh đồng hai thủ tục hành chính này là nguyên nhân dẫn đến các vi phạm có hệ thống.
Bản chất pháp lý của thủ tục Tự công bố sản phẩm Việc tự công bố không phải là một tờ giấy xin phép đơn thuần mang tính thủ tục hành chính, mà là lời cam kết chịu trách nhiệm pháp lý cao nhất của doanh nghiệp trước cơ quan quản lý nhà nước và người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm dựa trên Phiếu kết quả kiểm nghiệm an toàn thực phẩm. Căn cứ Khoản 2 Điều 3 Luật An toàn thực phẩm 2010, sản xuất, kinh doanh thực phẩm là hoạt động có điều kiện; tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải chịu trách nhiệm về an toàn đối với thực phẩm do mình sản xuất, kinh doanh. Do đó, bản tự công bố chính là lằn ranh pháp lý xác định giới hạn trách nhiệm của doanh nghiệp.
2. Nhận diện các hành vi vi phạm phổ biến trong thủ tục tự công bố và mức phạt tiền tương ứng
Quá trình tự công bố chứa đựng nhiều rủi ro kỹ thuật. Căn cứ Điều 20 Nghị định 115/2018/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 10 Điều 1 Nghị định 124/2021/NĐ-CP), các hành vi vi phạm phổ biến bị xử phạt như sau:
Vi phạm về việc không thực hiện thủ tục tự công bố hoặc không niêm yết công khai: Khoản 1 Điều 20 quy định phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
“a) Không thực hiện thông báo, đăng tải, niêm yết bản tự công bố sản phẩm theo quy định của pháp luật;
“b) Không công bố trên Hệ thống thông tin dữ liệu cập nhật về an toàn thực phẩm hoặc không nộp 01 bản tự công bố sản phẩm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định; (Nội dung được sửa đổi bởi điểm a khoản 10 Điều 1 Nghị định 124/2021/NĐ-CP).
c) Không lưu giữ hồ sơ đã tự công bố sản phẩm theo quy định của pháp luật;”
Vi phạm về sử dụng Phiếu kết quả kiểm nghiệm không hợp lệ: Khoản 2 Điều 20 quy định phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây về sử dụng phiếu kết quả kiểm nghiệm để tự công bố sản phẩm:
“a) Sử dụng phiếu kết quả kiểm nghiệm đã hết hiệu lực; b) Phiếu kết quả kiểm nghiệm không đầy đủ chỉ tiêu an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật; c) Phiếu kết quả kiểm nghiệm có ít nhất một trong các chỉ tiêu an toàn thực phẩm không phù hợp với quy chuẩn, tiêu chuẩn tương ứng hoặc không phù hợp quy định của pháp luật; d) Phiếu kết quả kiểm nghiệm được cấp bởi phòng kiểm nghiệm không được chỉ định hoặc không được công nhận phù hợp ISO 17025; đ) Phiếu kết quả kiểm nghiệm không phải là bản chính hoặc bản sao chứng thực;”
Đặc biệt, pháp luật bổ sung thêm điểm e: “e) Không có phiếu kết quả kiểm nghiệm trong hồ sơ tự công bố sản phẩm còn thời hạn tại thời điểm tự công bố theo quy định.” (Nội dung được bổ sung bởi điểm b khoản 10 Điều 1 Nghị định 124/2021/NĐ-CP).
Vi phạm nghiêm trọng về chỉ tiêu an toàn thực phẩm không phù hợp với mức tự công bố:
Khoản 3 Điều 20 quy định phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi: “a) Sản xuất hoặc nhập khẩu sản phẩm thuộc diện tự công bố sản phẩm không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật tương ứng hoặc quy định của cơ quan có thẩm quyền hoặc tiêu chuẩn đã công bố;” (Nội dung được sửa đổi bởi điểm c khoản 10 Điều 1 Nghị định 124/2021/NĐ-CP).
Khoản 4 Điều 20 quy định phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi: “a) Sản xuất hoặc nhập khẩu sản phẩm thuộc diện tự công bố sản phẩm mà không có bản tự công bố sản phẩm theo quy định của pháp luật.”
3. Phân tích rủi ro từ các hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả
Ngoài hình thức phạt tiền ấn định, rủi ro tài chính mang tính phá hủy đối với doanh nghiệp F&B nằm ở cơ chế phạt theo giá trị hàng hóa tiêu thụ và thủ tục bắt buộc thu hồi, tiêu hủy.
Rủi ro phạt tiền theo giá trị lô hàng vi phạm: Đối với sản phẩm tự công bố sai tiêu chuẩn mà đã bán ra thị trường, doanh nghiệp không chỉ bị xử phạt theo Điều 20 mà sẽ bị áp dụng mức phạt tính theo tổng giá trị hàng hóa đã tiêu thụ căn cứ tại Điều 22 Nghị định 115/2018/NĐ-CP (được sửa đổi bởi khoản 12 Điều 1 Nghị định 124/2021/NĐ-CP). Cụ thể Khoản 1 Điều 22 quy định:
“a) Phạt tiền từ 01 lần đến 02 lần tổng giá trị sản phẩm thực phẩm vi phạm đã tiêu thụ đối với hành vi buôn bán, lưu thông trên thị trường sản phẩm thực phẩm không phù hợp với tiêu chuẩn đã công bố…
c) Phạt tiền từ 03 lần đến 05 lần tổng giá trị sản phẩm thực phẩm vi phạm đã tiêu thụ đối với hành vi thay thế, đánh tráo, thêm, bớt thành phần hoặc chất phụ gia hoặc có chỉ tiêu an toàn không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật tương ứng…”
Đặc biệt, Khoản 1 Điều 3 Nghị định 115/2018/NĐ-CP (được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 1 Nghị định 124/2021/NĐ-CP) quy định nguyên tắc xử phạt kịch khung: “Đối với các hành vi vi phạm quy định tại… Khoản 1 Điều 22… Nghị định này nếu áp dụng mức tiền phạt cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 23 của Luật Xử lý vi phạm hành chính mà vẫn còn thấp hơn 07 lần giá trị thực phẩm vi phạm thì mức phạt tối đa được áp dụng bằng 07 lần giá trị thực phẩm vi phạm.” => Đây chính là cơ sở pháp lý tạo ra án phạt nặng nếu lô hàng nhập khẩu hoặc sản xuất có giá trị lớn được tung ra thị trường nhưng vi phạm tiêu chuẩn tự công bố.
Hình thức xử phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 20 Nghị định 115/2018/NĐ-CP quy định áp dụng hình thức xử phạt bổ sung: “Đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, nhập khẩu thực phẩm từ 01 tháng đến 03 tháng đối với vi phạm quy định tại các khoản 3 và 4 Điều này”. Việc bị đình chỉ hoạt động sẽ làm đứt gãy hoàn toàn chuỗi cung ứng của doanh nghiệp và vi phạm các hợp đồng phân phối.
Nghĩa vụ và thiệt hại tài chính từ thủ tục buộc thu hồi, tiêu hủy sản phẩm:
– Về biện pháp khắc phục hậu quả: Khoản 6 Điều 20 Nghị định 115/2018/NĐ-CP quy định “a) Buộc thu hồi thực phẩm; b) Buộc thay đổi mục đích sử dụng hoặc tái chế hoặc buộc tiêu hủy thực phẩm; c) Buộc thu hồi bản tự công bố sản phẩm”.
– Về trình tự thu hồi bắt buộc: Căn cứ Khoản 1, Khoản 2 Điều 5 Thông tư 23/2018/TT-BYT, ngay khi nhận được quyết định thu hồi bắt buộc từ cơ quan có thẩm quyền, doanh nghiệp chỉ có tối đa 24 giờ để thông báo bằng văn bản tới toàn hệ thống phân phối (kênh phân phối, đại lý, cửa hàng) yêu cầu dừng kinh doanh. Đồng thời, phải “thông báo bằng văn bản tới các cơ quan thông tin đại chúng cấp tỉnh, thành phố…” (điểm b khoản 1 Điều 4 Thông tư 23/2018/TT-BYT).
– Về việc chịu chi phí: Khoản 3 Điều 6 Thông tư 23/2018/TT-BYT và Khoản 4 Điều 55 Luật An toàn thực phẩm 2010 khẳng định “Chủ sản phẩm có trách nhiệm thanh toán chi phí thực hiện việc thu hồi và xử lý sản phẩm (nếu có) trong thời hạn chậm nhất là 15 ngày…”. Thiệt hại từ chi phí logistics thu hồi hàng hóa trên toàn quốc, chi phí thuê đơn vị tiêu hủy môi trường, cộng hưởng với sự khủng hoảng uy tín thương hiệu trên các phương tiện truyền thông đại chúng là rủi ro mang tính triệt hạ đối với doanh nghiệp vi phạm.
4. Chiến lược bảo vệ và kiểm soát rủi ro pháp lý cho doanh nghiệp F&B
Để không rơi vào các chế tài pháp lý khắt khe nêu trên, doanh nghiệp cần thiết lập hàng rào pháp lý nội bộ vững chắc ngay từ khâu nghiên cứu sản phẩm cho đến khi đưa hàng hóa ra lưu thông và phương án ứng phó sự cố:
Giai đoạn tiền kiểm (Trước khi đưa sản phẩm ra thị trường): Trước khi tiến hành kiểm nghiệm, doanh nghiệp bắt buộc phải thiết lập quy trình thẩm định pháp lý nội bộ đối với hồ sơ kiểm nghiệm. Việc rà soát chéo các chỉ tiêu xét nghiệm phải đảm bảo tuân thủ tuyệt đối quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cập nhật mới nhất do Bộ Y tế ban hành. Việc lập danh mục các chỉ tiêu kiểm nghiệm không được phép dựa trên cảm tính mà phải căn cứ vào bản chất nguyên liệu cấu thành sản phẩm đối chiếu với hệ thống quy chuẩn kỹ thuật tương ứng nhằm loại trừ triệt để rủi ro sử dụng Phiếu kết quả kiểm nghiệm thiếu chỉ tiêu an toàn.
Giai đoạn thực thi (Chuẩn hóa quy trình tự công bố và lưu trữ): Quá trình tự công bố đòi hỏi doanh nghiệp phải tuân thủ nghiêm ngặt thủ tục pháp lý. Căn cứ khoản 1 Điều 3 Nghị định 155/2018/NĐ-CP (sửa đổi điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị định 15/2018/NĐ-CP), doanh nghiệp không chỉ có nghĩa vụ tự công bố sản phẩm trên phương tiện thông tin đại chúng hoặc trang thông tin điện tử của mình, hoặc niêm yết công khai tại trụ sở, mà còn bắt buộc phải công bố trên Hệ thống thông tin dữ liệu cập nhật về an toàn thực phẩm. Trong trường hợp địa phương chưa có hệ thống dữ liệu này, doanh nghiệp phải nộp 01 bản tự công bố (qua đường bưu điện hoặc trực tiếp) đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ định để lưu trữ hồ sơ và đăng tải công khai. Đồng thời, doanh nghiệp phải duy trì hệ thống lưu trữ hồ sơ bản cứng tại trụ sở một cách khoa học.
Giai đoạn hậu kiểm: Duy trì tuân thủ và minh bạch trong hoạt động thanh tra, kiểm tra: Sau khi đưa sản phẩm ra lưu thông, doanh nghiệp có nghĩa vụ duy trì liên tục các điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm và lưu giữ hồ sơ, mẫu thực phẩm, thông tin cần thiết phục vụ công tác truy xuất nguồn gốc căn cứ điểm g khoản 2 Điều 7 và điểm b khoản 2 Điều 8 Luật An toàn thực phẩm 2010. Cơ quan quản lý nhà nước sẽ thực hiện hoạt động hậu kiểm thường xuyên, liên tục đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh theo quy định tại khoản 2 Điều 38 Nghị định 115/2018/NĐ-CP. Doanh nghiệp phải thiết lập cơ chế hợp tác minh bạch, cung cấp thông tin trung thực, chính xác và tuân thủ tuyệt đối các quyết định thanh tra, kiểm tra từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc che giấu, làm sai lệch hiện trường, bằng chứng về sự cố an toàn thực phẩm hoặc cố ý cản trở hoạt động kiểm tra là hành vi vi phạm pháp luật và bị xử phạt nghiêm khắc theo quy định tại khoản 4 Điều 25 Nghị định 115/2018/NĐ-CP.
Chủ động phòng ngừa và thực thi trách nhiệm thu hồi sản phẩm tự nguyện: Ngay khi tự phát hiện hoặc nhận được thông tin phản ánh về sản phẩm không bảo đảm an toàn, doanh nghiệp phải bảo đảm sức khỏe người tiêu dùng bằng cách lập tức khởi động quy trình thu hồi tự nguyện. Căn cứ khoản 1 Điều 4 Thông tư 23/2018/TT-BYT, trong thời gian tối đa 24 giờ kể từ thời điểm phát hiện sản phẩm thuộc trường hợp phải thu hồi, doanh nghiệp bắt buộc thông báo tới toàn hệ thống phân phối để dừng lưu thông, đồng thời báo cáo bằng văn bản tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền và thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng để cảnh báo người tiêu dùng.
Thực hiện nghĩa vụ báo cáo và xử lý triệt để hàng hóa vi phạm: Sau quá trình thu hồi, doanh nghiệp có nghĩa vụ báo cáo kết quả cho cơ quan có thẩm quyền trong thời gian tối đa 03 ngày kể từ khi kết thúc việc thu hồi theo yêu cầu tại khoản 2 Điều 4 Thông tư 23/2018/TT-BYT. Doanh nghiệp phải chịu mọi chi phí cho việc thu hồi, xử lý thực phẩm không bảo đảm an toàn căn cứ khoản 4 Điều 55 Luật An toàn thực phẩm 2010. Phương án xử lý sản phẩm sau thu hồi, bao gồm khắc phục lỗi ghi nhãn, chuyển mục đích sử dụng, tái xuất hoặc tiêu hủy bắt buộc phải được thực hiện đúng thời hạn và báo cáo kết quả hoàn thành kèm theo chứng từ chứng minh cho cơ quan quản lý nhà nước theo quy định tại Điều 8 Thông tư 23/2018/TT-BYT. Việc thực thi nghiêm ngặt trình tự này minh chứng cho sự tuân thủ pháp luật và trách nhiệm bảo vệ cộng đồng của doanh nghiệp.
Đưa một sản phẩm F&B ra thị trường đòi hỏi sự am hiểu và tuân thủ nghiêm ngặt các quy định chuyên ngành. Đội ngũ luật sư của Royal Law sẽ rà soát toàn diện các vấn đề pháp lý, giúp doanh nghiệp an tâm vận hành và hạn chế tối đa rủi ro pháp lý và các thiệt hại từ việc vi phạm quy định pháp luật.
Mọi thông tin yêu cầu tư vấn vui lòng liên hệ:
⚖️ VĂN PHÒNG LUẬT SƯ ROYAL – Royal law firm
📩Email: info@royallaw.vn
🌏 Website: https://royallaw.vn/
☎️ Hotline: 0989 337 688
Văn phòng Hà Nội:
☎️Điện thoại: (84-24) 3512 2931
🏢Địa chỉ: Tầng 8, P.802 tòa nhà HH2 Bắc Hà, số 15 phố Tố Hữu, phường Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
Văn phòng thành phố Hồ Chí Minh:
☎️ Điện thoại: (84-28) 2213 5775
🏢Địa chỉ: Lầu 4, tòa nhà Halo Building, số 10 Phan Đình Giót, phường Tân Sơn Hòa, thành phố Hồ Chí Minh.




























