KHI NÀO ĐƯỢC XEM LÀ PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG?
Bộ luật hình sự Việt Nam quy định có 07 trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự đó là: Sự kiện bất ngờ; Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự; Phòng vệ chính đáng; Tình thế cấp thiết; Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội; Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ; Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên. Phòng vệ chính đáng là một trong những trường hợp nói trên.
Theo từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội giải thích: “Phòng vệ chính đáng là gây thiệt hại cho kẻ tấn công tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của sự tấn công đang xảy ra hoặc đe dọa sẽ xảy ra ngay tức khắc nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể, lợi ích chính đáng của mình hay của người khác. Hành vi phòng vệ chính đáng là một tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi”.
Còn về mặt pháp lý theo khoản 1 Điều 22 BLHS “Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.”

Như vậy, dù theo góc độ nào, điều then chốt để đánh giá trường hợp đó có là Phòng vệ chính đáng hay không cũng thể hiện bởi yếu tố sự phù hợp giữa hành vi chống trả và hành vi xâm phạm. Sự phù hợp này là yếu tố để phân biệt hành vi phòng vệ chính đáng với các hành vi vi phạm pháp luật khác có tính chất tương tự như vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc hành vi trả thù. Mà theo đó, tại khoản 2 Điều 22 BLHS cũng quy định “Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại. Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này”. Trong trường hợp này, người phòng vệ đã có quyền phòng vệ, đã phòng vệ, tuy nhiên đã phòng vệ quá mức cần thiết nên phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.
Những tiêu chí xác định hành vi phòng vệ chính đáng bao gồm:
– Điều kiện về chủ thể: Trong một tình huống phòng vệ chính đáng, luôn tồn tại hai nhóm chủ thể chính, bao gồm:
Thứ nhất, người có hành vi xâm phạm (nạn nhân): phải đang có hành vi xâm phạm đến các lợi ích hợp pháp của cá nhân người phòng vệ, của người khác, của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức.
Đang có hành vi xâm phạm tức là hành vi đó đã bắt đầu và chưa kết thúc. Nếu hành vi xâm phạm chưa bắt đầu hoặc đã kết thúc thì mọi hành vi chống trả không được xem là phòng vệ chính đáng. Nếu hành vi xâm phạm này đã kết thúc nhưng lại có tiếp hành vi khác của chính người đó xâm phạm đến lợi ích chính đáng cần bảo vệ thì cũng không coi là hành vi xâm phạm đã kết thúc và người có hành vi chống trả vẫn được coi là phòng vệ.
Thứ hai, người có hành vi chống trả (người phòng vệ): Là người thực hiện hành vi chống lại sự xâm phạm để bảo vệ các lợi ích hợp pháp. Tuy nhiên, quyền phòng vệ của người này bị giới hạn ở phạm vi: (1) Chỉ được phép gây thiệt hại trực tiếp đến chính người xâm phạm (nạn nhân); (2) Không được gây thiệt hại cho người khác ngoài nạn nhân, dù những người đó có thể liên quan đến tình huống xảy ra; (3) Thiệt hại do người có hành vi phòng vệ gây ra chỉ có thể thiệt hại về tính mạng hoặc sức khỏe cho người xâm phạm. Trong khi đó, người có hành vi xâm phạm có thể gây ra bất cứ thiệt hại nào cho người phòng vệ, người khác, Nhà nước, tổ chức, tập thể như thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản, nhân phẩm, danh dự hoặc lợi ích xã hội khác.
Từ đó có thể thấy, pháp luật trao cho người phòng vệ một quyền nhất định để bảo vệ lợi ích hợp pháp, nhưng đồng thời giới hạn quyền đó để tránh việc phòng vệ bị biến tướng thành hành vi trả thù hoặc xâm phạm ngược lại người khác.
– Điều kiện về hành vi:
Thứ nhất, hành vi xâm phạm phải có tính chất nguy hiểm đáng kể được đánh giá qua các tiêu chí như sau:
(1) Tính chất quan trọng của quan hệ xã hội bị xâm phạm. Nếu quan hệ xã hội cần bảo vệ càng quan trọng bao nhiêu thì tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi xâm phạm càng nghiêm trọng bấy nhiêu.
(2) Tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công của người có hành vi xâm phạm. Nếu tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi xâm phạm không đáng kể thì hành vi chống trả không được coi là phòng vệ.
(3) Hành vi xâm phạm phải là hành vi trái pháp luật. Hành vi trái pháp luật trước hết là hành vi phạm tội và những hành vi khác trái với quy định của pháp luật thuộc các ngành luật khác nhau như: luật hôn nhân gia đình, luật dân sự, luật hành chính…Tuy nhiên, khi xét hành vi xâm phạm trong trường hợp phòng vệ chính đáng phải xét trong mối tương quan với hành vi chống trả, không phải bất cứ hành vi tội phạm nào xảy ra, người có hành vi chống trả gây chết hoặc gây thương tích cho người có hành vi xâm phạm đều là phòng vệ chính đáng. Ngược lại, có những hành vi xâm phạm chưa phải là hành vi phạm tội nhưng vì nó xâm phạm nghiêm trọng đến lợi ích của Nhà nước, của tổ chức và của công dân nên hành vi chống trả vẫn được coi là phòng vệ chính đáng.
Thứ hai, hành vi chống trả phải là hành vi cần thiết.
Khái niệm “cần thiết” trong luật hiện hành chưa được định nghĩa cụ xét xử hiện nay vẫn dựa vào tinh thần Nghị quyết số 02/HĐTP/NQ ngày 05/01/1986 của Hội đồng Thẩm thể. Do đó, thực tiễn phán Tòa án nhân dân tối cao (Nghị quyết số 02) hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS 1985, để đánh giá tính hợp lý của hành vi phòng vệ. Theo đó, mục II Nghị quyết 02 nêu rõ: “Hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác được coi là phòng vệ chính đáng khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Hành vi xâm hại những lợi ích cần phải bảo vệ là hành vi phạm tội hoặc rõ ràng là có tính nguy hiểm cho xã hội;
b) Hành vi nguy hiểm cho xã hội đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại thực sự và ngay tức khắc cho những lợi ích cần bảo vệ;
c) Phòng vệ chính đáng không chỉ gạt bỏ sự đe dọa, đẩy lùi sự tấn công, mà còn có thể tích cực chống lại sự xâm hại, gây thiệt hại cho chính người xâm hại;
d) Hành vi phòng vệ phải tương xứng với hành vi xâm hại, tức là không có sự chênh lệch quá đáng giữa hành vi phòng vệ với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại.”
Ngoài ra, cũng theo Nghị quyết số 02 thì “tương xứng” không có nghĩa là thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người xâm hại phải ngang bằng hoặc nhỏ hơn thiệt hại do người xâm hại đe dọa gây ra hoặc đã gây ra cho người phòng vệ. Để xem xét hành vi chống trả có tương xứng hay không, có rõ ràng là quá đáng hay không, thì phải xem xét toàn diện những tình tiết có liên quan đến hành vi xâm hại và hành vi phòng vệ như: Khách thể cần bảo vệ (ví dụ: bảo vệ địa điểm thuộc bí mật quốc gia, bảo vệ tính mạng); mức độ thiệt hại do hành vi xâm hại có thể gây ra hoặc đã gây ra và do hành vi phòng vệ gây ra; vũ khí, phương tiện, phương pháp mà hai bên đã sử dụng; nhân thân của người xâm hại (nam, nữ; tuổi; người xâm hại là côn đồ, lưu manh…); cường độ của sự tấn công và của sự phòng vệ; hoàn cảnh và nơi xảy ra sự việc (nơi vắng người, nơi đông người, đêm khuya)… Đồng thời, cũng cần phải chú ý đến yếu tố tâm lý của người phải phòng vệ có khi không thể có điều kiện để bình tĩnh lựa chọn được chính xác phương pháp, phương tiện chống trả thích hợp, nhất là trong trường hợp họ bị tấn công bất ngờ. Sau khi đã xem xét một cách đầy đủ, khách quan tất cả các mặt nói trên mà nhận thấy rõ ràng là trong hoàn cảnh sự việc xảy ra, người phòng vệ đã sử dụng những phương tiện, phương pháp rõ ràng quá đáng và gây thiệt hại rõ ràng quá mức (như: Gây thương tích nặng, làm chết người) đối với người có hành vi xâm hại thì coi hành vi chống trả là không tương xứng và là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Ngược lại, nếu hành vi chống trả là tương xứng thì đó là phòng vệ chính đáng.
Mọi thông tin yêu cầu tư vấn vui lòng liên hệ:
⚖️ VĂN PHÒNG LUẬT SƯ ROYAL – Royal law firm
📩Email: vplsroyal@gmail.com
🌏 Website: https://royallaw.vn/
☎️ Hotline: 0989 337 688
Văn phòng Hà Nội:
☎️Điện thoại: (84-24) 3512 2931
🏢Địa chỉ: Tầng 8, P.802 tòa nhà HH2 Bắc Hà, số 15 phố Tố Hữu, phường Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
Văn phòng thành phố Hồ Chí Minh:
☎️ Điện thoại: (84-28) 2213 5775
🏢Địa chỉ: Lầu 4, tòa nhà Halo Building, số 10 Phan Đình Giót, phường Tân Sơn Hòa, thành phố Hồ Chí Minh




























